Hôm nay 82
Hôm qua 123
Tuần này 502
Tháng này 2267
Tất cả 16812



Danh Y Trung Quốc

Hoàng Phủ Mật (215 - 282)

Hoàng Phủ Mật (215 -282)

HOÀNG PHỦ MẬT

Bậc thầy châm cứu học

Châm cứu là tiếng gọi chung liệu pháp dùng kim đâm và dùng thuốc cứu (dùng ngải đốt), là phương pháp vật lý trị liệu. Liệu pháp này có tác dụng kích thích thần kinh thân thể con người mà đạt đến hiệu quả điều trị. Nó bắt đầu có từ thời thượng cổ ở Trung Quốc, đại khái trong truyền thuyết “Phục Hy chế cửu châm” đã bắt đầu có, lúc đó vẫn còn ở thời kỳ đồ đá mới. Đến thời chiến quốc đã rất tiến bộ. Các thế hệ danh y sau này ai cũng có trong tay phép trị liệu này. Phát triển đến thời Tây Tấn thì xuất hiện nhà châm cứu học vĩ đại Hoàng Phủ Mật, càng nghiên cứu phát huy một cách toàn diện, khiến khoa châm cứu càng phát triển tiến bộ thêm lên.

Hoàng Phủ Mật thời niên thiếu lấy tên Tịnh, tự Sĩ An, đến tuổi cao tự hiệu là Huyền Án. Ông sinh năm thứ 20 Kiến An Hậu Hán (năm 215), mất năm thứ 3 (năm 282) Tấn Thái Khang, thọ 68 tuổi, người Triều Na, An Định (nay là Trấn Triều Na Tây Nam huyện Linh Đài, tỉnh Cam Túc, Trung Quốc). Xuất thân trong một gia đình nông dân, gia cảnh nghèo khó, sống bằng nghề nông. Tính ông hiền lành, luôn trầm tĩnh ít nói. Không cầu danh lợi, mỗi khi rỗi việc ông lại vùi đầu vào tìm hiểu các loại học vấn. Lên tuổi trung niên, ông đã thông hết học thuyết của Bách gia, có trình độ văn hóa thâm uyên, vừa làm ruộng vừa viết sách, tác phẩm của ông có nội dung rất dồi dào, hiểu biết siêu phàm, lập luận đúng đắn, lời văn thoáng đạt được nhiều người ưa chuộng, tác phẩm được truyền tụng phổ biến trong dân gian, danh vọng của ông dần dần có vị trí cao trong giới văn học.

Sống giữa thời binh đao khói lửa, nhân dân chịu nhiều mất mát, còn bị bệnh tật hành hạ, cả ông cũng mắc chứng phong thấp, bán thân bất toại, cả hai tai cũng lùng bùng sắp bị điếc, nhiều tai ương dồn dập khiến ông ra chiều suy nghĩ. Cho rằng xã hội bây giờ đang cần thầy thuốc hơn bao giờ hết. Thế là ông quyết chí xoay qua nghiên cứu y học.

Năm Hoàng Phủ Mật 46 tuổi, được triều đình cho là người có tài, tuyển chọn ông ra giúp nước. Trong mắt người đời thì cho đó là “vinh dự”. Nhưng đối với ông thì coi như không có gì đáng bận tâm, vẫn y theo cuộc sống hằng ngày lo chuyện đồng án viết văn.

Qua hai năm, Tẩn Võ đế Tư Mã Diêm muốn mời ông ra làm quan, mấy lần hối thúc, ông vẫn viện lẽ sức khỏe không tốt, không hứa hẹn gì. Qua năm sau triều đình lại chọn ông làm đại diện điển hình cho phái đạo đức văn chương, với hàm vị “vinh dự” như thế. Hoàng Phủ Mật cũng không dám nhận, mà còn dâng lên một biểu văn chương gửi cho Tư Mã Diêm, xin được cho mượn một xe sách mang về tham khảo.

Đến năm 61 tuổi, Tư Mã Diêm triệu ông vào triều nội dạy cho Thái tử. Hoàng Phủ Mật từ chối viện lý do bệnh nặng, không cách nào hơn. Triền đình thụ cho ông chức quan Nghị Lang, ông vẫn từ chối để chuyên sâu công việc nghiên cứu y học và sáng tác của ông.

Trước lúc lâm chung, ông căn dặn con ông chỉ tẩm liệm ông trong áo quan mỏng. Con ông làm theo di chúc, an tán ông tại Ngao Giao Bảo. Hậu nhân ngưỡng mộ phẩm đức cao cả và tinh thần một lòng một dạ chăm lo sự nghiệp văn chương của ông, lập Hiền Nhân Từ để tưởng nhớ ông.

Trước tác về văn học của Hoàng Phủ Mật gồm có “Mấy đời thế kỷ đế vương”, “Truyện Cao sĩ”, “Truyện Dực sĩ”, “Truyện Liệt nữ”, “Nguyên Án xuân thu”,v.v..về y học có trước tác “Châm cứu Giáp Ất Kinh”.

Bộ “Châm cứu Giáp Ất Kinh” là bộ chuyên thư có quy mô lớn đầu tiên của y học Trung Quốc. Nội dung được Hoàng Phủ Mật rút ra từ phần xuất sắc nhất trong trước tác của nhiều trào, tổng kết kinh nghiệm quý báu của các danh y đời trước, kết hợp sưu tập tư liệu quý báu của đương thời biên soạn ra. Bộ sách có 12 quyển, tất cả 128 thiên, đưa ra lý luận một cách có hệ thống về châm cứu học, những điều cần biết về sinh lý, bệnh lý, chẩn đoán và dự phòng,v.v..xác định vị trí phân bố, tổng số, đơn huyệt và song huyệt của huyệt đạo. Giới thiệu phương pháp thao tác châm cứu đối với các loại bệnh định ra huyệt đạo trị liệu cũng như chứng bệnh thích ứng và chứng bệnh cấm kỵ v.v..khiến người nghiên cứu về bộ môn châm cứu, chỉ cần đọc qua bộ sách này là hiểu biết được toàn diện bộ mặt về châm cứu học.

Trong “Giáp Ất Kinh”, Hoàng Phủ Mật trước tiên nhấn mạnh tác dụng chỉnh thể của nhân thể, từ tinh thần ngũ tạng bàn tới quan hệ đến bệnh hoạn của con người, một mặt dạy cho con người về phương pháp giữ cân bằng tinh thần để phòng bệnh tật; một mặt dạy thầy thuốc phải quan sát tình trạng bệnh nhân một cách toàn diện, đoán bệnh dùng châm. Còn tóm luận liên hệ giữa ngũ tạng, hỗ tương ảnh hưởng mà dẫn đến vấn đề biến hóa v.v..để thầy thuốc cù bị trước về quan niệm hội chuẩn. Trong khai tông Minh Nghĩa của ông đề xuất thế này, quả là rất bản lĩnh.

Nói đến phương diện sinh lý, ông đã nhận thức được sự liên hệ giữa cơ năng và nội tạng, dùng liệu pháp ngoại “Nhìn biểu hiện bên ngoài của người bệnh mà đoán được nội tạng bên trong, biết được chứng bệnh của đương sự”, tiến hành điều hòa âm dương, cân bằng khí huyết, thì sẽ khỏe mạnh. Điều này như cách nói của y học thời hiện đại lấy thần kinh thống nhất làm chủ đạo, máu huyết sẽ tuần hoàn bình thường, các hệ thống cơ năng phát triển cân bằng thì sẽ giữ được sức khỏe, lý lẽ đó rất tương hợp.

Hoàng Phủ Mật lại căn cứ theo bệnh lý, chỉ rõ bệnh nào nên châm cứu, bệnh nào không nên châm, bệnh nào không nên cứu. Ví dụ như ông nói: Bệnh sốt có 9 tình trạng không được châm:

Mồ hôi không xuất, hai má ửng đỏ. Chết.

Tiêu chảy, bụng trướng. Chết.

Mờ mắt, sốt quá nóng. Chết.

Người già, trẻ con, sốt nóng mà bụng trướng. Chết.

Không xuất mồ hôi, ói ra máu. Chết.

Lưỡi bị thối rữa, sốt cao. Chết.

Ho ra máu, mồ hôi không đến chân. Chết.

Viêm trong xương tủy. Chết.

Sốt co giật, lưng uốn ván, cứng hàm. Chết.

Đây là lời cảnh báo đối với thầy thuốc, nếu châm, bệnh nhân sẽ chết.

Trong khi thực hành châm cứu, những điều cần phải lưu ý, trong “Giáp Ất Kinh”, ông cũng đề cập tới, như khí hậu bốn mùa biến đổi khác nhau, kim châm sâu cạn cũng khác nhau, mức độ sâu cạn nắm bắt thế nào mới đảm bảo an toàn, làm thế nào nâng tay nghề để tùy nghi tiến lui, chứng bệnh khác nhau dùng kim châm cũng khác nhau, các phương pháp châm kỹ thuật như thế nào,v.v..đều ghi tường tận rõ ràng.

Còn huyệt vị, sắp xếp càng cụ thể như: phần đầu, phần sau đầu, mặt, tai, cổ, vai, ngực, nách, bụng, tứ chi, trong đó có một số bộ vị chia bao nhiêu tuyến, mỗi bộ bao nhiêu huyệt, đều rất khoa học.

Chứng bệnh thích hợp cho châm cứu, kê ra gồm có: bệnh cảm sốt, nhức đầu, sốt rét, tê bại, bệnh vàng da, nóng lạnh, bệnh về tiêu hóa, tâm thần, dịch tả, tê yết hầu, bệnh tai, mắt, miệng, răng, tạp bệnh phụ nữ v.v.. tất cả có hơn 880 chứng bệnh. Kèm theo phương thuốc trị liệu.

Từ các ví dụ trên cho thấy, bộ “Giáp Ất Kinh” quả là bộ sách lý luận liên hệ với thực tế rất có giá trị, trở thành kim chỉ nam hướng dẫn bộ môn châm cứu.

Thành tựu châm cứu học của Hoàng Phủ Mật không chỉ đẩy mạnh liệu pháp châm cứu của Trung Quốc tăng tốc phát triển, mà còn lan tỏa ra thế giới, nhất là đối với giới y học Nhật Bản, đã lấy “Giáp Ất Kinh” làm cơ sở xây dựng môn châm cứu học cho nước mình. Cho nên Khổng Huyệt Bộ vị Nhật Bản và “Giáp Ất Kinh” hoàn toàn giống nhau. Còn châm cứu học của Triều Tiên và Pháp cũng từ Trung Quốc du nhập vào, vì vậy chúng ta không được xem nhẹ tác dụng của “Giáp Ất Kinh” không được quên ơn công lao thừa kế và phát huy của Hoàng Phủ Mật.

Trích sách “Những câu chuyện Trung Hoa xưa Danh Y phần 2” của Nhà xuất bản Trẻ.